Thứ năm, Ngày 29 Tháng 06 Năm 2017

Những điều người đái tháo đường cần biết!

Cập nhật lần cuối: 27 Tháng 12 2014

NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

 I. NGUYÊN TẮC CHUNG:

            Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh ĐTĐ cần hiểu rõ vai trò quan trọng ngang nhau của việc phòng bệnh và điều trị bệnh, trong đó điều trị là sự thống nhất của các yếu tố ăn uống (dinh dưỡng), sinh hoạt (luyện tập) và thuốc.

 

            Do những đặc điểm về sinh bệnh học, mỗi typ ĐTĐ có những mục đích điều trị khác nhau.

1. ĐTĐ type 1:

            Bệnh là do hậu quả của quá trình hủy hoại tế bào beeta của đảo tụy Langerhans. Người mắc bệnh typ này phần lớn ở lứa tuổi thanh thiếu niên (< 30 tuổi). Mục đích điều trị của nhóm này phải đạt các yêu cầu chính sau:

            - Cải thiện và duy trì tình trạng lâm sàng và tâm lý bệnh nhân ở trạng thái bình thường, hạn chế đến mức thấp nhất sự khác biệt giữa người không mắc bệnh và người mắc bệnh.

            - Phòng chống hữu hiệu không để xảy ra các biến chứng như hạ đường máu, tăng đường máu có triệu chứng v.v…

            - Đảm bảo một đời sống xã hội bình thường về khả năng lao động, hạnh phúc gia đình v.v…

2. ĐTĐ type 2:

            Bệnh thường xuất hiện ở lứa tuổi trên 30. Là lứa tuổi làm ra của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội, cũng là lứa tuổi đóng vai trò then chốt trong cuộc sống mỗi gia đình. Vì thế phải cần đạt được các yêu cầu sau:

            - Không để xảy ra triệu chứng lâm sàng ảnh hưởng tới người bệnh

            - Duy trì sự chuyển hóa bình thường của cơ thể

            - Duy trì trọng lượng cơ thể hợp lý

            - Cải thiện tình trạng bệnh lý tim mạch theo hướng tốt lên, ngăn ngừa các biến chứng. Kéo dài tuổi thọ, rút ngắn sự khác biệt giữa người bệnh ĐTĐ và người bình thường bằng nân cao chất lượng cuộc sống (trong hoạt động xã hội, trong lao động và tư duy v.v…)

            Nói thì dễ, thực hiện được mới khó”. Mục đích đặt ra rất đơn giản, rõ ràng, nhưng để đạt được là cả quá trình phấn đấu gian khổ, đòi hỏi phải có nghị lực và quyết tâm cao. Đây cũng là vấn đề đòi hỏi giải quyết mối quan hệ tổng hòa giữa bệnh nhân, gia đình và xã hội.

II. NHỮNG YÊU CẦU VỀ PHÍA NGƯỜI BỆNH:

            Đây là yêu cầu cơ bản nhất, quan trọng nhất. Kết quả điều trị và chất lượng điều trị của bệnh ĐTĐ phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của người bệnh.

1. Tự học hỏi:

            Người bệnh ĐTĐ phải biết tự học hỏi qua sách báo, qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các nhà chuyên môn, qua bạn bè để tích lũy cho mình sự hiểu biết đúng đắn và những kiến thức cần thiết, cơ bản về bệnh ĐTĐ. Đây là điều hết sức quan trọng và cấp thiết vì chính người bệnh sẽ biết mình phải làm gì và không nên làm gì. Mọi lời khuyên, lời chỉ dẫn của thầy thuốc sẽ trở nên vô nghĩa nếu người bệnh còn nghi ngờ và không làm theo, do không có sự hiểu biết đúng.

a. Những điều bệnh nhân cần biết:

            - Những kiến thức cơ bản về bệnh ĐTĐ, quá trình phát triển tự nhiên của bệnh, các YTNC dễ làm cho bệnh phát triển.

            - Những thông tin cần thiết cho việc tự theo dõi bệnh, cách phát hiện sớm các biến chứng của bệnh, để có biện pháp can thiệp kịp thời.

            - Những kỹ thuật cần cho tự điều trị bằng thuốc, kỹ thuật cần cho quá trình tự theo dõi bệnh.

            - Những kiến thức về chọn thuốc, về những tác dụng của thuốc, những khả năng có thể xảy ra khi dùng thuốc v.v… Thái độ cần có khi những tác dụng ngoại ý có thể xảy ra khi dùng thuốc.

            - Những kiến thức cần và đủ để người bệnh tự tìm một chế độ ăn phù hợp, một lối sống phù hợp với nghề nghiệp, với thói quen sinh hoạt của cá nhân và gia đình.

b. Những điều bệnh nhân phải tránh:

            - Tin rằng ĐTĐ có thể chữa được bằng bùa, ngải, cầu cúng, thuốc nam, bằng cách ăn nhiều gan, lách, tụy của động vật v.v…

            - Quá lo lắng khi biết mình bị ĐTĐ, lo cho con cháu và các thế hệ sau này bị “lây”. Thực tế ĐTĐ cũng như các bệnh không lây nhiễm khác, bệnh phát triển là một tất yếu; do nhiều yếu tố liên quan cùng bị ảnh hưởng nên bệnh mới phát sinh, phát triển. Trong thực tế không phải luôn luôn cứ đời cha hoặc mẹ mắc bệnh ĐTĐ thì con cũng bị ĐTĐ. Hơn nữa, ngày nay người ta thấy bệnh ĐTĐ có thể ngăn chặn và phòng bệnh được.

2. Tự giác chấp hành nghiêm túc:

            Người bệnh phải tự giác chấp hành nghiêm túc các hướng dẫn của thầy thuốc về chế độ ăn, luyện tập và sử dụng thuốc một cách kiên trì, tỉ mỉ.

3. Tự phát hiện:

            Người bệnh phải biết tự phát hiện những dấu hiệu không bình thường để tự điều chỉnh chế độ điều trị hoặc đến khám thầy thuốc kịp thời không để xảy ra những tai biến đáng tiếc.

4. Biết phổ biến kinh nghiệm:

            Người bệnh ĐTĐ phải biết phổ biến kinh nghiệm cho bạn bè, đồng nghiệp. Biết giúp người thân, quan phát hiện các YTNC, can thiệp kịp thời, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ phát triển bệnh. Phổ biến kinh nghiệm tự quản lý bệnh cho những người cùng hoàn cảnh v.v…

5. Biết theo dõi:

a. Theo dõi chế độ điều trị:

            - Chế độ ăn

            - Chế độ luyện tập

            - Thuốc điều trị

b. Theo dõi tình trạng chung của cơ thể:

            - Chỉ số BMI =         Cân nặng (kg)

                                     (Chiều cao)2 (m)

            (Cân nặng tính theo kilôgam, chiều cao tính bằng mét)

            - Số đo vòng eo

            - Số đo huyết áp

            - Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng khác:

            + Glucose máu lúc đói

            + Ceton niệu

c. Những chỉ số theo dõi đặc biệt:

            - Khám mắt trung bình 6 tháng/1 lần

            - Có protein niệu không? Chỉ số thăm dò sớm nhất là microalbumin niệu (nếu không có điều kiện thì làm protein niệu 24 giờ). 6 tháng kiểm tra 1 lần.

            - HbA1C: Là chỉ số để đánh giá tình trạng quản lý đường máu tốt nhất hiện nay. Đây là phương pháp đo lượng đường gắn vào hồng cầu. Lượng đường này không được sử dụng để tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động, nó ít chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi của nồng độ đường trong máu ngoại vi, hơn nữa đời sống trung bình hồng cầu từ 90 – 120 ngày, nên sự phản ánh nồng độ đường ổn định hơn. Mặt khác, nếu chỉ kiểm tra đướng máu lúc đói (vào buổi sáng) sẽ không kiểm soát được nồng độ đường máu sau ăn. Đây sẽ là một khiếm khuyết lớn, vì nhiều bằng chứng cho thấy tổn thương các mạch máu sau ăn quan trọng hơn là đướng máu lúc đói.

            Vì vậy, sự phản ánh của HbA1C được xem là sự “phản ánh thật” về lượng đường tồn tại trong máu, nó trung thành hơn so với chỉ số đường máu lúc đói mà người ta thường làm hiện nay.

            Trong điều trị nếu giảm được 1% HbA1c, thì làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch từ 20 – 25%.

            Thời gian để kiểm tra HbA1c thường từ 3 – 6 tháng/1 lần.

III. YẾU CẦU ĐỐI VỚI NGƯỜI THÂN CỦA BỆNH NHÂN:

            Tục ngữ có cầu “Gánh nặng cần được san sẻ, nỗi lo cần được chia ra”. Sự cảm thông về bệnh tật nếu được người thân quan tâm, giúp đỡ sẽ có ý nghĩa cải thiện tiên lượng rất nhiều. Ngày nay, người ta chú ý mở các lớp tập huấn luyện công tác chăm sóc sức khỏe cho người thân của người bệnh. Cụ thể:

1. Sự giúp đỡ của vợ chồng:

            Mọi cảm thông, hiểu biết giúp đỡ lẫn nhau trong sinh hoạt và nếp sống lao động của vợ hoặc chồng người bệnh, là chỗ dựa tinh thần quan trọng nhất. Gia đình vừa là tổ ấm vừa là dinh lũy cuối cùng, là chỗ dựa cuối cùng để con người tồn tại, đấu tranh chống lại bệnh tật, chống lại những biến động lớn lao trong cuộc sống xã hội. Hãy cùng vợ hoặc chồng bạn đi khám bệnh; hãy giúp nhau lập thời gian biểu để uống thuốc, để luyện tập, hãy cùng nhau lập thực đơn điều trị về chế độ dinh dưỡng. Người bạn đời chung thủy phải vừa là thầy thuốc, vừa là người tư vấn tình cảm để giúp người thân phát hiện sớm những bất thường trong sinh hoạt, phát hiện sớm các biến chứng.

            Ở người phụ nữ bị mắc bệnh ĐTĐ; họ rất lo ngại có con được không? Có truyền bệnh cho con không? Để giải quyết vấn đề này, bạn nên làm những việc sau:

            - Nếu định sinh con vợ chồng bạn nên bàn bạc cụ thể với bác sỹ của bạn

            - Suốt thời gian chuẩn bị thụ thai, mang thai, sinh đẻ, mức đường trong máu phải được quản lý chặt chẽ (Duy trì nồng độ HbA1c ≤ 6,5%)

            - Sử dụng thuốc, chế độ ăn uống, luyện tập, phải tuân theo sự chỉ dẫn nghiêm túc của thầy thuốc chuyên khoa.

            - Quá trình mang thai cần được theo dõi cẩn thận bởi các thầy thuốc chuyên khoa nội tiết và chuyên khoa sản. Phải chẩn đoán chính xác thời gian sinh con; khi sắp sinh nên vào theo dõi và sinh con ở bệnh viện chuyên khoa.

            Tóm lại: Việc sinh đẻ phải có kế hoạch chu đáo

            Nhiều bệnh nhân trẻ tuổi thường hỏi có nên lập gia đình không? Cũng có nhiều bậc phụ huynh hỏi có nên cho con em họ lấy người bị mắc bệnh ĐTĐ?

            Câu trả lời: Tại sao không? Nếu họ yêu nhau hãy để cho họ kết duyên. Nên để cho người ĐTĐ trẻ tuổi sớm xây dựng gia đình và ổn định cuộc sống. Cũng là rất tốt cho người bị ĐTĐ có một người bạn đời khỏe mạnh.

2. Sự giúp đỡ của gia đình, họ hàng thân thích:

            Dân ta có câu “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Ngoài quan hệ vợ chồng, sự quan tâm của các thành viên trong gia đình như con cháu, bố mẹ, sự quan tâm của nhiều người thân sẽ giúp người ĐTĐ có thêm nhiều nghị lực. Họ rất dễ trở thành tiêu điểm chú ý của cả họ hàng gần xa. Việc tỏ ra quan tâm, thăm hỏi luôn là niềm an ủi động viên để họ không cảm thấy bị “thừa”. Đây sẽ là nguồn động viên khích lệ họ phải sống sao cho xứng đáng.

IV. YÊU CẦU ĐỐI VỚI XÃ HỘI:

            Thái độ ứng xử với người đau yếu, tật nguyền luôn là thước đo văn hóa của một dân tộc.

1. Từ phía bạn bè:

a. Những người cùng công tác, học tập:

            Nhiều người e ngại không muốn cho đồng nghiệp biết mình mắc bệnh ĐTĐ. Họ e ngại bị chê là “bạc phước”, e ngại sẽ ảnh hưởng đến sự tiến bộ trong công tác; người trẻ thì lo khó lấy vợ, lấy chồng?

            Tất cả đều sai lầm một cách khủng khiếp. Nếu sợ bị chê là “bạc phước” thì trên thế giới này có tới mấy trăm triệu người đã, đang và sẽ bị “bạc phước”? Có biết bao nhiêu nguyên thủ quốc gia? Bao nhiêu người nổi tiếng về các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, toán học, vật lý học v.v… cũng bị bệnh ĐTĐ, họ đều là những người nổi tiếng, lưu danh thiên cổ. Chẳng lẽ họ đều là những người “bạc phước”, là “không tiến bộ” cả hay sao?

            Đã đến lúc chúng ta đánh giá con người không phải chỉ dựa vào cái mẽ bên ngoài; vào bộ quần áo, vào đôi giày mốt hay không mốt; mà phải bằng chất lượng cuộc sống của họ. Giá trị thật của con người là ở chỗ “Trong thời gian sống bạn đã gì? Để lại những gì cho nhân dân, cho đất nước? cho những người thân thiết của mình”.

            Ở những con người có văn hóa họ sẽ thông cảm và sẽ sẵn sàng giúp đỡ bạn. Còn kẻ vô văn hóa sẽ lợi dụng sự không may mắn này để kì thị bạn. Chính vì thế, việc công khai bệnh tật hay không là tùy bạn và gia đình bạn.

b. Với những người cùng cảnh ngộ:

            Đó là những người thuộc nhiều ngành nghề, nhiều thế hệ khác nhau. Bạn có thể gặp họ ở cùng một câu lạc bộ, cùng nơi công tác, hay cùng trong thời gian nằm viện. Họ sẽ dễ dàng cảm thông, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với bạn trong quản lý, theo dõi, điều trị bệnh. Đây là hình thức cần được phát triển để giúp người ĐTĐ mở rộng kiến thức cho bản thân.

2. Từ phía những người làm công tác y tế:

            Ở đây phải nói đến cả hai hệ thống y tế chuyên sâu (ở các bệnh viện) và cả hệ thống y tế công cộng.

            Trong điều kiện thực tế ở nước ta có 2 mặt cần được đáp ứng. Đó là:

a. Từ phía những người làm công tác tổ chức và điều hành bộ máy quản lý y tế:

            Mục đích tạo ra được những điều kiện thuận lợi cho việc phòng chống bệnh ĐTĐ như là phòng chống “một đại dịch của thế kỷ 21

            Ngay nay ta có thể xem bệnh ĐTĐ như là một bệnh xã hội, bởi tính phổ biến và ảnh hưởng nặng nề của nó với nền kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bệnh có thể phòng ngừa được theo nhiều cấp độ khác nhau. Vấn đề ở chỗ phải tổ chức sao cho khéo léo, phù hợp để cùng lúc phát huy cho được thế mạnh cũng như tiềm năng của cả hai hình thức y tế chuyên sâu và y tế công cộng.

b. Từ phía nhân viên y tế trực tiếp phục vụ bệnh nhân:

            - Nâng cao y đức phục vụ người bệnh, không vì thấy người giầu sang thì hết lòng cứu chữa, người nghèo khó thì ngoảnh mặt làm ngơ.

            - Phải nâng cao trình độ chuyên môn theo từng vị trí công tác: Bác sỹ, y tá, hộ lý, nhân viên phục vụ v.v…

            - Phải tổ chức các đội điều trị đặc biệt gồm các chuyên gia về bệnh ĐTĐ, những người điều dưỡng giỏi, các nhà dinh dưỡng nhiệt tình, phục vụ người bệnh miễn phí hoặc có thu phí một phần nhưng lấy tinh thần tương trợ, giúp đỡ bệnh nhân là chính.

            - Tổ chức nhiều hình thức tư vấn: Qua câu lạc bộ, điện thoại, tư vấn qua thư

            - Tổ chức các trung tâm tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng. Phát hiện sớm bệnh từ khi còn là các YTNC, nhằm can thiệp tích cực làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ và mức độ biến chứng của bệnh.

3. Từ phía các nhà quản lý xã hội:

            - Cần có các chính sách xã hội với người ĐTĐ như chế độ miễn giảm phí khám chữa bệnh và mua thuốc, chế độ nghỉ hưu sớm, chế độ trợ cấp khi ốm v.v…

            - Các qui định về luật pháp đảm bảo quyền lợi tốt hơn cho người bị bệnh ĐTĐ so với người không bị mắc bệnh.

            Trên đây chỉ mới là những biện pháp thụ động

            Chúng ta cần nhìn xa, trông rộng để có biện pháp chủ động là phòng chống bệnh ĐTĐ có hiệu quả. Đó là:

            - Tăng đầu tư cho y tế, kiện toàn bộ máy y học dự phòng để phát hiện bệnh từ khi có YTNC, can thiệp kịp thời, thực hiện dự phòng 3 cấp có hiệu quả.

            - Mở rộng công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng trên các phương tiện thông tin đại chúng, theo những chương trình, mục tiêu định sẵn.

            - Đưa chương trình giáo dục sức khỏe cộng đồng, nếp sống văn minh hợp vệ sinh vào chương trình giáo dục phổ thông cơ sở.

Bản quyền thuộc Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội. Giấy phép thiết lập Website số 938/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông cấp ngày 10/4/2015

Địa chỉ cơ quan: 70 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội. ĐT: (024) 32595734, Fax: (04) 38358739

Trưởng ban biên tập:  TS.BS Nguyễn Nhật Cảm, Giám đốc Trung tâm